Con mèo mà trèo cây cau

Con mèo mà trèo cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chú chuột đi chợ đường xa

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo


The cat climbs up the cau tree

Finding the house empty, he wonder where the mouse has gone

The mouse went to the market afar

Looking for fish sauce and salt to make offerings to the cat’s father


This was the first nursery rhyme that my mother used to teach me language. In retrospect, the whole thing makes little senses. I mean, why does the mouse put his house on top of a cau tree, why does the cat cares to visit the mouse, why does the mouse cares about the cat’s father’s death anniversary enough to prepare for is offerings? What kind of people offer just fish sauce and salt on a death anniversary?

I inquired my mother’s expert opinion, she said the mouse knew that the cat was coming for him, so he just ran away. I think it makes a lot of sense 😆


Con mèo: cat

Trèo: climb up

(Cây) cau: a kind of tall tree, its fruit plays an essential role in wedding ceremonies

Hỏi thăm: hỏi means to ask, thăm means to visit, hỏi thăm altogether means to ask or to inquire about

(Chú) chuột: mouse

Đi đâu vắng nhà: where is (the mouse) since he is not at home

Đi chợ: to go shopping (for food)

Đường xa: far away

Mua: to buy

Mắm: fish sauce or any kind fermented fish product

Muối: salt

Giỗ: the act of offering food on the altar on a person’s death anniversary

Cha: father

Useful language learning resources

As you may know, I am currently learning Italian, which would be the 7th foreign language I have attempted. Although I’ve failed at Chinese, Japanese and Russian, I can speak the other 4 on at least a conversational level. What I am doing differently this time is that I will learn the language all by myself, without attending any physical class. This way, I hope to a) save some money, b) be in total control of the speed of learning and c) make use of the time in quarantine / social distancing. After 1 month, I already found the results to be much better than with any language class before.

Beside the fact that my understanding of Spanish helped a lot with Italian, there are some tools and concepts that I have just discovered. These have surely boosted my progress considerably:

  1. Busuu

I have tried maaaaaany language learning apps on the market: Duolingo, Babbel, Memrise, Drop, Pinsleur, Rosetta Stone, you name it, but none has come close to Busuu. It’s the only app that I can really recommend. The content is great: the first lessons are short and simple: introducing yourself, ordering coffee, pronunciation, a few key grammar concepts. From there on, the length and complexity increases, so that each lesson is a bit more challenging than the last.

What I appreciate the most about Busuu is the way difficult grammar points are explained. Most of the time, a grammar lesson begins with a conversation or a text. This way, learners have time to figure out how this is used in real life. After that come the explanations: usage, conjugations, exceptions et cetera, exactly how it would happen in a classroom. There are different forms of exercises, so most of the time I was not bored by the format.

Another feature worth mentioning is the conversation exercise. There, you will need to complete the task by writing or recording an answer using your own words and upload it. Other native speakers who are learning your language will then correct your answer or suggest a better version. It is an awesome community, since none of my exercises has gone uncorrected.

That being said, Busuu still has upgrade their vocabulary review section. I believe spaced repetition is not applied there, so “strong” words do not automatically go into the “week” category after a while. It is also not possible to review words by lesson 😦

Busuu refers to the CEFR (Common European Framework of Reference for Language). Lessons go from A1 to B2, with a certification by McGraw-Hill awarded after successful completion of each level. I paid 56€ for a 12-month subscription, but there is also a free version with a more limited number of lessons.

2. Immersion

Immersion is a method of learning languages promoted by many polyglots such as Steve Kaufmann. Basically, learners should surround themselves with the target language: listening to podcast, tv or music as much as possible. Following some other advice, I have further divided my listening materials into 2 groups: active listening and passive listening.

Materials for active listening are videos, podcasts created for language learners according to my level. For this, I used Davide’s Podcast Italiano, Lucrezia’s Youtube Channel and after a while, The Pillow. Their contents are interesting enough for me to follow and feature real-life languages. While watching or listening to these channels, I turn on the subtitle wherever possible as this helps me understand better and remember how certain words are pronounced.

Materials for passive listening are whatever I can find in my target language: news, films, series, et cetera. I play these while cooking, surfing Facebook or anything that doesn’t require attention. The goal of passive listening is to get used to the sound of the target language, the speed at which it is naturally spoken and to “wire” your brain into that language. My problem is that I dislike background noise so much (including background music), so I guess I haven’t practiced passive listening as much as I should have.

In general, it is a good idea to make use of any free learning channel you can find. Just make sure that the material is spoken in your target language and not English or any other one that you already know. In the beginning, it is ok not to understand anything. As you proceed, you will be able to figure out more and it is so satisfying when this happens.

How do you call this half-moon-shaped pastry?

Croissant has existed in my life ever since I was a child. As a French colony, Vietnam has managed to replicate most popular French food, most of the time with a twist. Sometimes, the result is magnificent like the world-renown bánh mì, and then there are other times when we have the sad, soft, soggy Vietnamese croissant which totally lacks butter and texture.

This sad creation has put me off croissants for a long time, until I reached Europe. It was here that had my first encounter with the flaky piece of delight. Nevertheless, my stomach seems to have been forever traumatized from earlier experiences and refuse to digest any croissant regardless how good they taste.

There is no denying that croissant is an awesome pastry, but it is its name that I want to discuss in this blog. It never dawned on me that croissant can be called any other way (although in Vietnamese, we do call it “horn bread”) until I went to Zurich. Apparently, it is not only the German language that the Swiss like to butcher. Much to my confusion, they renamed “croissant” into “Gipfeli”, just for the fun of it.

And then there’s Italy with not one, but two different names for the same pastry. As previously mentioned, sweet croissant is a crucial component of the Italian breakfast. In most of Italy, the term “cornetto” is used. It can be either the classic version, “cornetto vuoto”, or with sweet filling. I enjoy both versions on a good day when my stomach works like a good girl.

In Milan, however, they decide that simply replacing a French term with an Italian one is too straightforward. And because causing confusion is so much fun, why not just call a croissant… a “brioche”? Yes, I know, a brioche as we know it is a beautifully soft, puffy loaf of bread that is anything but flaky. But apparently in Milanese logic, these two are the same.

So, these are the three terms that I have come across during my time in Europe. How do you call your croissant? Is it Gipfeli, cornetto or brioche? I’m so curious to find out!

Tản mạn chuyện cà phê Ý

Nửa đêm ngồi coi video tiếng Ý nên viết chút chuyện liên quan chơi 😀 Cái video này giải thích về cách gọi cà phê ở Ý, một việc tưởng chừng vô cùng đơn giản nhưng có thể đem lại vô số rắc rối nếu bạn không biết.

Thứ nhất là quán cà phê: ở Ý, quán cà phê được gọi là bar. Tức là những chỗ có chữ bar thì bán cà phê chứ không bán rượu đâu. Chỗ bán rượu thì có thể là aperitivo, còn cái bar như kiểu Kneipe bên Đức thì mình ko biết nó gọi là gì.

Thứ hai là tên các món cà phê: un caffè thì người ta sẽ bưng ra espresso, còn cà phê bình thường như kiểu ở Đức thì gọi là americano. Cái mà nhiều bạn không ở châu Âu hay gọi là latte thì nó tương đương với latte macchiato, đừng vô bar kêu latte nếu không người ta sẽ bưng cho một ly sữa 😁 Cái mà mình thích uống nhất là espresso macchiato hay caffè macchiato, tức là espresso thêm một ít bọt sữa cho đỡ đau bao tử.

Thứ ba là thời điểm uống: tất cả các loại cà phê kể trên và cappuccino đều có thể uống vào bữa sáng. Tuy nhiên sau các bữa ăn như trưa và tối thì người ta chỉ gọi các loại cà phê không có sữa mà thôi. Nguyên nhân rất đơn giản là vì cà phê hỗ trợ tiêu hóa, trong khi sữa thì lại gây đầy bụng khó tiêu. Cho nên ăn xong bữa trưa rồi mà còn chén thêm một tách cappuccino vào cuối bữa thì đừng thắc mắc tại sao anh bồi bàn nhìn mình kiểu wtf nhé.

Thứ tư là cách uống: trái với các bác Pháp thích ngồi nhâm nhi bên tách cà phê sáng, bar cà phê ở Ý thường có nhiều chỗ ở quầy hơn là ở bàn. Nguyên nhân là vì các bác sẽ làm một shot espresso, tợp một phát rồi đi làm. Mình không hiểu được làm sao các bác có thể uống nóng như thế mà không bị bỏng lưỡi.

Túm lại là cà phê ở Ý rẻ bèo, chỉ cỡ 1-2€ tùy loại. Bạn nào có qua Ý nhớ ăn sáng với cà phê và brioche (Bắc Ý) hay cornetto.

Phía Tây không có gì lạ.

Phía Tây không có gì lạ là tác phẩm tạo nên tên tuổi của Remarque, một tiểu thuyết xuất sắc về đề tài Chiến tranh thế giới thứ nhất, cuộc chiến mà ông đã đi qua và bị ám ảnh bởi nó. Khác với cuộc Thế chiến tiếp theo, chiến tranh đầu thế kỉ hai mươi vẫn còn tương đối thô sơ với ngựa và lưỡi lê, có khác hơn một chút với sự xuất hiện của những cỗ xe tăng cuối cuộc chiến. Dù vậy (hoặc chính bởi vì vậy), chiến trường vẫn là một địa ngục thực sự với những chàng trai tuổi chưa đến hai mươi, vừa bước ra từ trường học. Những cậu thanh niên nhỏ xíu vác trên người bộ quân phục rộng thùng thình. Cởi bộ quân phục ra, họ lại trở thành những chàng trai chỉ vừa qua độ tuổi trẻ con.

Bằng kí ức của những năm tháng phục vụ trong quân ngũ, Remarque đã dễ dàng miêu tả cuộc sống của những chiến sĩ Đức trên tuyến đầu: món đậu hầm chán ngắt, những ván bài qua ngày, những trò chơi khăm cấp trên và cả những vi phạm nho nhỏ vào quy tắc để kiếm được một bữa ăn ra trò. Ông miêu tả những chàng thanh niên ra thanh niên: trẻ trung, khỏe mạnh và, theo một nghĩa nào đó, lạc quan.

Nhưng họ đâu phải những chàng đôi mươi bình thường. Nhân vật chính, Paul, tự trào phúng gọi bản thân là những anh lính cựu trào và thực vậy, họ đã sống qua ba năm trên chiến trường. Mở đầu câu chuyện là cái chết của một người bạn, một người đã từng cùng lớp với họ, và cậu Müller chỉ chăm chăm thừa hưởng đôi ủng tốt của anh ta. Nếu đôi ủng còn có giá trị với Kemơrich thì có chết Müller cũng không nhòm ngó đến nó, Paul đã nói vậy. Nhưng Kemơrich bị cưa chân, với cậu ta đôi ủng cũng chỉ có trị giá ngang với một món tráng sức vô dụng thôi. Rõ ràng chiến tranh đã gạt ra khỏi những chàng trai trẻ này mọi tình cảm ủy mị và chỉ còn những suy nghĩ thiết thực còn tồn tại thôi. Nếu giữ lại trái tim ngây thơ của những đứa trẻ, có lẽ họ đã sớm nằm lại trên chiến trường như những chàng tân binh luôn chết đầu tiên trên mặt trận. Trong đầu họ không còn Goethe, không còn Schiller, không còn triết gia hay tác gia gì nữa, chỉ còn những hơi ngạt, trái phá, mìn, chỉ còn làm sao để sống sót. Họ là những người duy nhất hiểu điều gì đang xảy ra trên chiến trường, trên thực tế. Đồng thời, họ lại hoàn toàn không hiểu điều gì đang diễn ra, với họ, với cuộc đời, với cuộc chiến. Sống sót, đó là điều duy nhất còn ý nghĩa.

Và Remarque đã miêu tả Thế hệ bị mất (The lost generation) như thế đó, bằng những đoạn hội thoại về tương lai. Họ hoàn toàn lạc lối, những người trẻ ấy, không biết cuộc đời mình sẽ đi đâu về đâu sau cuộc chiến. Paul đã lạc lõng trong suốt kì nghỉ phép. Vẫn là ngôi nhà, căn phòng và những cuốn sách, người cha, người mẹ, người chị, hàng xóm trước, nhưng cậu không thể tìm được sự thân thuộc. Đã trải qua cuộc chiến, giờ cuộc sống êm đềm thuở trước đối với cậu cũng chỉ là một cái gì xa xôi lắm, và hẳn là cậu sẽ không bao giờ trở về với nó được.

Nhưng Remarque vẫn là Remarque, ông đâu có để cho cái vô luân của chiến tranh tàn phá hết con người chứ. Thực vậy, tình bạn vẫn là một sự an ủi to lớn cho những chàng trai bị hủy hoại này. Paul đã lấy lại sức mạnh để bước tiếp khi nghe thấy tiếng đồng đội sau lưng mình. Cậu đã tìm mọi cách để ở lại với Albert, đã bất chấp tất cả để đưa Kropp về. Họ chia nhau từng mẩu thuốc lá, từng con ngỗng quay, họ cùng chịu đựng trận pháo kích liên hồi trong căn hầm kín bưng. Những chàng trai tuổi mới đôi mươi dựa vào nhau mà bước qua những ngày tháng điên cuồng trên chiến trường.

Bi kịch của người lính ở Thế chiến thứ nhất khác hẳn với Thế chiến thứ hai. Nếu trong Một thời để yêu và một thời để chết, Ernst quay về phép rồi tìm thấy quê hương tan tành vì đạn bom thì thành phố của Paul vẫn yên bình như ngày cậu ra đi. Chiến tranh chưa động đến nước Đức, và người ta vẫn được ru ngủ bởi những lời dối trá. Và những anh lính từ mặt trận về cũng không nỡ khuấy đảo sự bình yên vô tư ấy. Người ta nói về những lí tưởng không thể thực hiện, nhưng Paul quá mệt mỏi để phản bác nó. Cậu hiểu rằng người ta chỉ đơn giản là không hiểu, những người chưa từng ra mặt trận sao có thể hiểu về chiến tranh. Và cậu cảm thấy mừng, vị cuộc chiến diễn ra ở một nơi nào đó bên ngoài lãnh thổ Đức, và những ngôi làng, thành thị quê hương cậu vẫn được an toàn.

Phía Tây không có gì lạ kết thúc bằng cái chết của Paul, sau khi tin về ngày hòa bình đã được lặp đi lặp lại. Có lẽ một hiệp định đình chiến đã đến rất gần rồi, vào cái ngày mùa thu năm 1918 ấy. Nhưng cậu vẫn chết, “trong một ngày khắp cả mặt trận yên tĩnh đến nỗi bản thông cáo chỉ ghi là Phía tây không có gì lạ”. Phi lí như chính bản thân cuộc chiến tranh.

Bàn về ngôn ngữ

Trong các ngôn ngữ mình từng học là Việt, Anh, Đức, TBN, Nga thì có hai đứa thuộc về hệ Germanic là Anh và Đức, tiếng TBN thuộc hệ Romance và tiếng Nga là Slavic. Tất cả các tiếng này đều thuộc đại gia đình Indo-European. Mỗi lần học tiếng như vậy, việc khiến mình cảm thấy thú vị nhất là so sánh các điểm giống và khác nhau.

Tiếng Đức và tiếng Anh khá tương tự nhau. Về mặt ngôn ngữ học, cả hai đều thuộc về nhánh Tây Germanic. Về mặt ngữ pháp, tiếng Anh giống như “bản giản thể” của tiếng Đức với các điểm ngữ pháp khó, lằng nhằng đã được lược đi bớt. Về mặt từ vựng, tiếng Anh chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Romance languages, cụ thể là tiếng Pháp. Điều này có nguồn gốc từ việc tiếng Pháp được giới thượng lưu sử dụng như ngôn ngữ quý tộc trong một thời gian dài. Ước tính có tới 60% từ vựng tiếng Anh có nguồn gốc Romance.

Sau đây là một số từ vựng tiếng anh “thuần Germanic”, có ai muốn đoán thử xem phiên bản Romance thông dụng hơn của chúng nó là gì không 😀 afterfollows, unfolkly, farseer, beseek.

Tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha có ít quan hệ với nhau hơn, một đứa là Germanic và một đứa là Romance. Về mặt từ vựng, tiếng TBN khá tương đồng với tiếng Anh. Có nhiều chữ viết y hệt nhau, chỉ phát âm là khác nên ai đã giỏi tiếng Anh rồi thì học tiếng TBN khá có lợi thế. Về mặt ngữ pháp, tiếng TBN mang đặc trưng của một ngôn ngữ Romance với cấu trúc thì và động từ phức tạp. Mình rất thích sự phân biệt giữa ser và estar hay (phần lớn) sự khác biệt giữa indicativo và subjuntivo. Nhiều người tin rằng mỗi ngôn ngữ cung cấp một góc nhìn khác đối với thế giới và sau khi học tiếng TBN, mình đồng ý với điều đó.

Ngữ hệ Germanic và Slavic có một điểm chung rất lớn là chia danh từ (noun declension) phức tạp. Danh từ tiếng Đức và tiếng Nga đều có ba giống: đực, cái và giống trung. Tiếng Đức có bốn cách: nominativ, akkusativ, dativ và genitiv, còn tiếng Nga thì cũng có bốn cách này và thêm hai cách nữa là prepositional và instrumental. Mỗi cách như vậy thể hiện vai trò ngữ pháp của một từ trong câu. Trong tiếng Đức, giống và cách của một từ được thể hiện qua mạo từ (der, die, das) cũng như đuôi tính từ nếu có. Trong tiếng Nga, giống và cách được thể hiện ở đuôi danh từ và tính từ nếu có, không có mạo từ. Việc chia cách ngữ pháp chật chẽ giúp hai ngôn ngữ này có khả năng miêu tả chính xác hơn. Cấu trúc câu trong tiếng Đức và Nga cũng linh hoạt hơn, chủ vị ngữ có thể nằm bất cứ nơi nào nó muốn.

Về mặt phát âm, tiếng TBN và tiếng Nga đều có chữ R uốn lưỡi. Chữ R của Đức thì lại ở trong cổ họng giống tiếng Pháp. Chữ R trong tiếng Anh thì cũng ở lưỡi nhưng không rung mạnh lắm. Vì rất thích uốn lưỡi nên mình áp dụng một chữ R cho tất cả mọi ngôn ngữ, nên nhiều khi nói tiếng Đức nghe hơi giống dân Bayern. Mình nghĩ là đối với người Việt thì tiếng TBN là dễ phát âm nhất vì nó không có kiểu nhiều phụ âm dính chặt vào nhau. Nếu chỉ xét về việc nghe êm tai thì mình thích tiếng TBN nhất, rồi đến tiếng Nga và tiếng Đức. Tiếng Anh và Việt học sớm quá nên hoàn toàn ko có cảm xúc gì đặc biệt.

La fille de Berlin

La fille de Berlin – Serge Lutens

Tự nhiên muốn viết vài dòng kỉ niệm gần một năm mình dùng La fille de Berlin. Đây là một trong những món đồ đắt tiền đầu tiên mình mua cho bản thân, cũng là món đồ xa xỉ nhất mà mình sở hữu, nhưng mình chưa bao giờ cảm thấy hối hận vì đã rước em nó về nhà. Mùi hương hoa hồng nồng nàn kiêu sa gợi nhớ đến quý cô Berlin xinh đẹp mạnh mẽ, vừa quý phái lại vừa năng động. Nàng luôn ngẩng cao đầu, sẵn sàng xách váy cởi giày chạy đi lấy búa đập tường bất cứ lúc nào 
Nước hoa niche không rẻ, nhưng nó đem đến cho người dùng một cảm giác vô cùng khác biệt. Như thể mùi hương này được tạo ra dành riêng cho mình. Bên cạnh việc không phải chung đụng mùi với ai thì mình còn rất thích sự biến đổi của mùi hương theo thời gian. Sau khi dùng la fille de Berlin khoảng 2 tiếng thì mình sẽ không còn cảm nhận được sự hiện diện của em nó nữa, chỉ khi những người xung quanh liên tục khẳng định là mày vẫn còn thơm lắm thì mình mới đinh ninh là không mua phải nước hoa đểu 😆 Nhưng đôi khi chỉ choàng khăn ở chỗ có dính nước hoa, cả tuần giở ra vẫn nghe được mùi.
Nhiều người yêu nước hoa đã từng tỏ sự khó chịu với những sự thay đổi của Serge Lutens trong thời gian gần đây, khiến cho nước hoa của ông mainstream hơn. Mình không thể tham dự nhiều vào cuộc tranh luận này, nhưng chai la fille de Berlin mình mua năm 2018 này vẫn làm mình hài lòng ở mọi chi tiết: màu sắc đỏ rực trong suốt, chai thủy tinh hình vuông tối giản và chắc chắn, nhãn và nắp chai màu đen mạnh mẽ. Có chăng là cái nhãn quá to khiến khó nhìn thấy màu sắc xinh đẹp bên trong có thể coi là một điểm trừ lớn. Ngoài ra thì mình chẳng có gì để chê bai cả.